Tin tổng hợp

CNQP&KT - Với chính sách phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ phù hợp, Hàn Quốc đã phát huy được những tiềm năng, lợi thế và vượt qua thách thức để có đội ngũ nhân lực chất lượng cao, góp phần đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa.

KINH NGHIỆM CỦA HÀN QUỐC

Đầu thập kỷ 1960, nền khoa học và công nghệ của Hàn Quốc bị đánh giá là trì trệ và tụt hậu; tích lũy vốn tri thức khoa học và công nghệ hầu như không có, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển ở mức rất thấp (vào khoảng 9,5 triệu USD). Nhân lực khoa học và công nghệ ở cả lĩnh vực công và tư nhân chưa đầy 5.000 người, trong đó chỉ có 79 tiến sĩ. Tuy nhiên, bằng chính sách phù hợp với điều kiện thực tế của từng giai đoạn, Hàn Quốc đã phát huy được tiềm năng, lợi thế và vượt qua thách thức để có đội ngũ nhân lực chất lượng cao, góp phần đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa, trở thành nước phát triển ở châu Á và trên thế giới. Hiện nay, Hàn Quốc có nền khoa học và công nghệ tiên tiến, đội ngũ nhân lực nghiên cứu và phát triển hùng hậu với gần 500.000 người (nhiều hơn cả Anh và Pháp), đầu tư quốc gia cho nghiên cứu và phát triển (năm 2016) là 77 tỷ USD, đứng thứ năm thế giới.

Từ thực tiễn phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ của Hàn Quốc, có thể rút ra một số kinh nghiệm, đó là:

Thứ nhất, hỗ trợ và khuyến khích doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu và phát triển, trong đó có phát triển nguồn nhân lực.

Hàn Quốc đã thực hiện nhiều chính sách và biện pháp để hỗ trợ và thúc đẩy hoạt động nghiên cứu và phát triển tư nhân, bao gồm ưu đãi thuế, hỗ trợ tài chính, đặt hàng của Chính phủ. Chính sách ưu đãi các doanh nghiệp gồm miễn thuế đầu tư cho nghiên cứu và phát triển và phát triển nguồn nhân lực. Hàn Quốc sửa đổi Luật thuế địa phương và Luật miễn giảm thuế quốc gia để miễn thuế đất; giảm thuế doanh nghiệp, thuế nhập khẩu các nguyên vật liệu và công cụ dùng cho nghiên cứu và phát triển, phát triển nguồn nhân lực.

Nhà máy điện pin nhiên liệu khổng lồ của Tập đoàn POSCO ở Pyeongtaek, Hàn Quốc. Ảnh: TL

Đối với việc thiết lập hệ thống tài chính phục vụ phát triển công nghệ, năm 1981, Hàn Quốc thành lập Ngân hàng Phát triển công nghệ Hàn Quốc, chuyên về tài chính thúc đẩy sự phát triển và thương mại hóa công nghệ. Ngoài ra, quốc gia này còn thành lập Cơ quan bảo lãnh phi lợi nhuận, Tổ chức tài chính công nghệ với chức năng hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận các khoản vay ưu đãi cho phát triển hoặc thương mại hóa công nghệ; các quỹ phát triển công nghệ, xúc tiến khoa học và công nghệ, công nghệ thông tin và truyền thông... để thúc đẩy thương mại hóa công nghệ mới. Hệ thống tài chính phục vụ phát triển công nghệ được hoàn thiện với việc thiết lập thị trường chứng khoán công nghệ. Bên cạnh đó, thiết lập chương trình đặt hàng của nhà nước để thúc đẩy nhu cầu đối với các sản phẩm công nghệ mới được phát triển bởi các doanh nghiệp vừa và nhỏ; cùng nhiều chương trình hỗ trợ khác, như: dịch vụ tư vấn kỹ thuật và pháp lý, dịch vụ thông tin công nghệ, thương mại và chuyển giao công nghệ...

Hàn Quốc có nền khoa học và công nghệ tiên tiến, đội ngũ nhân lực nghiên cứu và phát triển hùng hậu với gần 500.000 người, đầu tư quốc gia cho nghiên cứu và phát triển đứng thứ năm thế giới.

Ngoài ra, Hàn Quốc cũng triển khai các chương trình hỗ trợ nghiên cứu, phát triển công nghiệp và đổi mới. Trong đó, trợ cấp cho nghiên cứu và phát triển chiếm 30% tổng số tiền cho các chương trình hỗ trợ; tiếp nhận chuyển giao công nghệ chiếm 13%; phát triển nguồn nhân lực chiếm 11%. Chính phủ cũng cung cấp các khoản vay ưu đãi cho hoạt động này với số tiền lên tới hàng tỷ USD, cùng một số chương trình khác, như: Hỗ trợ trả lương, giảm thuế nhập khẩu, miễn thuế của địa phương, miễn thuế thu nhập cá nhân cho kỹ sư nước ngoài...

Với những chính sách khuyến khích và hỗ trợ của Chính phủ, các doanh nghiệp tư nhân đã đầu tư mạnh cho nghiên cứu và phát triển. Theo thống kê, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển tăng nhanh chóng, từ mức 428 triệu USD, chiếm tỷ lệ 0,77% GDP (tổng sản phẩm nội địa) năm 1980 tăng lên hơn 12 tỷ USD, 2,5% GDP năm 1995. Tỷ lệ giữa nhà nước và tư nhân đảo ngược từ mức nhà nước chiếm 64%, tư nhân chiếm 36% (năm 1980) thành mức tư nhân chiếm 81%, nhà nước chiếm 19% (năm 1995). Số nhân lực nghiên cứu tăng từ 18.434 (năm 1980) lên tới 128.315 (năm 1995), riêng khu vực tư nhân tăng từ 5.141 nhân lực nghiên cứu (năm 1980) lên 68.625 (năm 1995).

Thứ hai, thu hút nhân lực kỹ sư công nghệ cao từ nước ngoài để nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển nội địa.

Các doanh nghiệp Hàn Quốc, đặc biệt là các tập đoàn lớn đã thực hiện nhiều biện pháp để thu hút và trọng dụng kỹ sư công nghệ cao là người Hàn Quốc ở nước ngoài (Hàn kiều) nhằm nâng cao năng lực nghiên cứu và phát triển nội địa, với hai hình thức chủ yếu là hồi hương và sử dụng ở nước sở tại. Gói khuyến khích để hồi hương nhân tài Hàn kiều gồm các chế độ đãi ngộ hấp dẫn như mức lương thưởng cao, hưởng thêm khoản “tiền trợ cấp hồi hương”... Trong khi đó, đối với việc sử dụng nhân lực ở nước sở tại, điều kiện và môi trường làm việc tốt, công việc có tính độc lập cao, được trọng dụng và thăng tiến. Năm 1992, các trung tâm nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp thu hút được 427 nhân tài Hàn kiều, các vị trí hoạch định công nghệ ở trụ sở đầu não của các tập đoàn hầu hết do các tiến sĩ Hàn kiều với bề dày kinh nghiệm ở các công ty đa quốc gia đảm nhiệm. Nhiều tập đoàn lớn như Samsung, Huyndai, LG... đã thiết lập các đơn vị nghiên cứu và phát triển ở Thung lũng Silicon (bang California, Mỹ), để thực hiện các hoạt động nghiên cứu và phát triển trong lĩnh vực vi điện tử, công nghệ sinh học, bán dẫn/máy vi tính và công nghệ sinh học.

Thứ ba, tăng cường đào tạo nhân lực khoa học và công nghệ.

Chính phủ Hàn Quốc đã xây dựng hệ thống giáo dục riêng về khoa học và công nghệ, tách biệt với hệ thống giáo dục trung học và đại học hiện có. Bên cạnh việc mở rộng các khóa đào tạo sau đại học tại Viện Khoa học và công nghệ tiên tiến Hàn Quốc (KAIST), các trường trung học và đại học khoa học và công nghệ cũng được thành lập, hình thành nên hệ thống đào tạo các nhà khoa học và kỹ sư xuất sắc. Học sinh, sinh viên ở những trường này còn được cấp học bổng và miễn giảm nghĩa vụ quân sự. Ngoài ra, Viện Công nghệ Hàn Quốc (KIT) đã mở chương trình nội trú miễn phí dành cho học sinh tốt nghiệp trường trung học khoa học và các học sinh tài năng. Chính phủ Hàn Quốc đã nỗ lực để liên kết KAIST, KIT và các trường trung học khoa học để đưa ra chương trình giáo dục toàn diện cho những sinh viên có năng khiếu về khoa học. Một “điển hình” trong thu hút hiệu quả nhân tài Hàn kiều để nhanh chóng nâng cao năng lực nghiên cứu là Đại học Khoa học và Công nghệ Pohang (POSTECH), được thành lập dưới sự tài trợ của Pohang Jecheol (sau này là POSCO). Điều này đã tạo ra mô hình liên kết ngành công nghiệp - trường đại học, giữa các trường đại học và các doanh nghiệp.

Không những thế, Hàn Quốc còn tích cực đẩy mạnh đào tạo nhân lực kỹ sư ở nước ngoài. Nhiều nhà khoa học, các nghiên cứu sinh của Hàn Quốc đến các quốc gia có nền khoa học và công nghệ phát triển mạnh như Nhật Bản, Hoa Kỳ, Đức… làm việc và học hỏi được rất nhiều kỹ thuật, công nghệ tiên tiến. Chính phủ Hàn Quốc cũng ban hành các luật về tăng cường đào tạo nhân lực công nghệ cao, với tiêu chí các khóa đào tạo phải đi đôi với giáo dục chính thống và gắn với ngành công nghiệp trọng điểm, khuyến khích cả doanh nghiệp và cá nhân có thể phát triển các trường, khóa học và chương trình đào tạo chất lượng...

Việt Nam cần có sự thay đổi và điều chỉnh về tư duy, cách tiếp cận, biện pháp cụ thể và cải thiện năng lực thực thi trong chính sách phát triển nhân lực khoa học và công nghệ để phù hợp với điều kiện thực tế hiện nay.

BÀI HỌC GÌ CHO VIỆT NAM?

Từ việc nghiên cứu kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ của Hàn Quốc, có thể rút ra một số bài học cho Việt Nam, trong đó có phát triển nguồn nhân lực khoa học và công nghệ ngành công nghiệp quốc phòng, như sau:

Một là, cần thay đổi cách tiếp cận trong chính sách để tạo động lực và tạo đà cho những nhân tố chủ chốt trong hệ thống nghiên cứu và phát triển.

Khuôn viên Trường đại học tư thục VinUni do Tập đoàn Vingroup đầu tư với định hướng phát triển trở thành trường đại học tinh hoa tại Việt Nam. Ảnh: CTV

Đối với doanh nghiệp, cần sử dụng cách tiếp cận cạnh tranh thị trường và biện pháp khuyến khích “cây gậy và củ cà rốt” để tạo động lực và tạo đà cho doanh nghiệp đầu tư nghiên cứu và phát triển, phát triển nguồn nhân lực cho lĩnh vực này. Đối với các viện nghiên cứu và trường đại học, thay cách tiếp cận cào bằng và bình quân chủ nghĩa bằng cách tiếp cận cạnh tranh. Theo đó, các tiêu chí như thành tựu, quá trình nghiên cứu, sự phù hợp với nhu cầu quốc gia, sự phối hợp với khu vực kinh doanh... có thể được sử dụng trong phân bổ nguồn lực. Kinh nghiệm Hàn Quốc cho thấy trong môi trường cạnh tranh, tinh thần hiếu học, tinh thần khoa bảng trở thành động lực và áp lực khiến các cá nhân phải làm việc cật lực để có được công việc thích hợp, lương cao, địa vị tốt.

Hai là, sử dụng cách tiếp cận lựa chọn và tập trung trong phát triển nhân lực khoa học và công nghệ phù hợp với từng giai đoạn cụ thể của tiến trình công nghiệp hóa. Hàn Quốc đã xác định rõ từng nội dung trọng tâm phù hợp với mỗi giai đoạn phát triển cụ thể và do vậy, nguồn lực đầu tư tập trung, không bị phân tán, dàn trải.

Ba là, thu hút nhân tài Việt kiều để tiếp thu khoa học và công nghệ nước ngoài phục vụ công nghiệp hóa. Các biện pháp thu hút nhân tài phải phù hợp với điều kiện thực tế của Việt Nam hiện nay. Kinh nghiệm Hàn Quốc cho thấy, khi trình độ kinh tế - xã hội còn kém, họ thực hiện chính sách lựa chọn và tập trung hồi hương nhân tài Hàn kiều với các biện pháp như: tạo môi trường, điều kiện làm việc thuận lợi; tin tưởng giao trọng trách và nhất là có chế độ đãi ngộ thỏa đáng.

Bốn là, nâng cao năng lực thực thi chính sách. Yếu tố chủ yếu đảm bảo khả năng thực hiện tốt là các nhà lãnh đạo phải có tầm nhìn, tham vọng để có thể hợp nhất và huy động mọi nguồn lực cần thiết vận hành bộ máy hành chính nhà nước hiệu quả.

Năm là, xây dựng môi trường xã hội thuận lợi trong ươm tạo và nuôi dưỡng nhân lực khoa học và công nghệ. Khi người dân nhận thấy và hiểu rằng, khoa học và công nghệ có thể giúp họ thoát khỏi đói nghèo, sẽ tạo nên bước chuyển về văn hóa, sự chuyển đổi căn bản về thái độ và nhận thức xã hội đối với khoa học và kỹ thuật.

Sáu là, cần liên kết giữa khu vực nghiên cứu và phát triển công - khu vực công nghiệp, khuyến khích doanh nghiệp hợp tác với nhau, với viện nghiên cứu, trường đại học và các tổ chức khác dưới nhiều hình thức; chuyển mạnh tổ chức nghiên cứu và phát triển công có hướng nghiên cứu gắn với hoạt động sản xuất, kinh doanh phục vụ nhu cầu doanh nghiệp hoặc chuyển sang mô hình doanh nghiệp khoa học và công nghệ...

Có thể thấy, Việt Nam cần có sự thay đổi và điều chỉnh về tư duy, cách tiếp cận, biện pháp cụ thể và cải thiện năng lực thực thi trong chính sách phát triển nhân lực khoa học và công nghệ để phù hợp với điều kiện thực tế hiện nay. Theo đó, các nhà hoạch định chính sách phát triển nhân lực khoa học và công nghệ cần am hiểu sâu về tiềm năng, lợi thế của đất nước và những khó khăn, thách thức phải đối mặt, cùng với các yếu tố chính trị, xã hội, văn hóa và kinh tế để có được chính sách đúng đắn và phù hợp.

Trung tá, TS. PHẠM TUẤN ANH & Thượng úy ĐÀM BẢO TRUNG

 

____________________

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. Hong Sungjoo (2011), “Korean STI Policies in Technology Catching-up Stage”, STI Policy Review, Vol.2, No.4.

2. Hwang Yongsoo (2011), “Korean STI Policies in the Institutional Building Stage”, STI Policy Review, Vol.2, No.4.

3. Lee Jeong Hyop (2015) “Các vấn đề và chính sách trong giai đoạn lãnh đạo khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo”, Tạp chí JSTPM, tập 4, số 1.

4. Lee Jong Wha (2000), Economic Growth and Human Development in the Republic of Korea, 1945-1992, Occasional.

5. Science and Technology Policy Institute (2013), The Internalization of Science and Technology in the earlier stage of Economic Development in South Korea.

 

 

Bình luận


Họ và tên:                

Email:                       

Nội dung: