Tin tổng hợp

CNQP&KT - Hiện đại hóa Quân đội là đòi hỏi tất yếu trước yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Trong đó, vấn đề cốt lõi là phải tự chủ, hiện đại hóa sản xuất quốc phòng, đồng nghĩa với hiện đại hóa nền Công nghiệp quốc phòng Việt Nam. Để đáp ứng yêu cầu đó, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/TW về đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo.

Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 26/1/2022 của Bộ Chính trị (gọi tắt là Nghị quyết 08) xác định “Xây dựng nền công nghiệp quốc phòng chủ động, tự lực, tự cường, lưỡng dụng, hiện đại” và “Công nghiệp quốc phòng phải làm chủ được công nghệ tiên tiến, hiện đại”. Đây là chủ trương đúng đắn nhằm hiện đại hóa Quân đội và thu hẹp khoảng cách trình độ công nghiệp quốc phòng (CNQP) Việt Nam với thế giới. Hiện đại hóa được hiểu là việc ứng dụng những thành tựu khoa học - công nghệ (KHCN) tiên tiến, hiện đại vào quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và quản lý. Theo đó, xây dựng CNQP hiện đại chính là việc tự nghiên cứu, phát triển cơ sở vật chất, kỹ thuật, quy trình công nghệ sản xuất và tiếp thu, nhận chuyển giao, ứng dụng thành tựu KHCN quân sự tiên tiến vào sản xuất vũ khí, trang bị kỹ thuật (VKTBKT) cho Quân đội. Với nguồn lực hạn chế, chúng ta phải hiện đại hóa Quân đội bằng cả hai con đường là mua sắm và tự sản xuất VKTBKT. Tuy nhiên, đây là loại hàng hóa độc quyền, thuộc về bí mật quân sự, bí mật quốc gia; do vậy, việc mua bán, chuyển giao được kiểm soát chặt chẽ, giá thành đắt đỏ, chi phí vận hành, bảo dưỡng, đào tạo nhân lực rất lớn.

Mặc dù đã đạt được nhiều thành tựu trong sản xuất quốc phòng, nhưng so với khu vực và thế giới, trình độ công nghệ CNQP Việt Nam vẫn còn hạn chế. Trên thang đo 11 bậc trình độ sản xuất quốc phòng thế giới, Việt Nam đạt bậc 7 (nghiên cứu ở mức độ hạn chế và sản xuất theo mẫu) và phấn đấu đạt trình độ bậc 8 (sản xuất ở mức độ hạn chế vũ khí tiên tiến) trong giai đoạn từ năm 2025 đến 2030. Bên cạnh đó, hiệu quả sản xuất ở một số công đoạn còn thấp, hao phí vật tư, nguyên vật liệu, độ nguy hiểm cao, quy trình xử lý chất thải công nghiệp độc hại còn nhiều bất cập. Việc tổ chức sản xuất chưa đồng bộ, chủ yếu sản xuất theo công nghệ nhóm, phù hợp với đặt hàng loạt nhỏ. Hơn nữa, chúng ta còn phụ thuộc vào đối tác về bản quyền thiết kế, trình độ công nghệ và nguyên, vật liệu đầu vào... Trong bối cảnh đó, việc xây dựng CNQP hiện đại là tất yếu nhằm giảm bớt sự lệ thuộc vào các đối tác, đồng thời thu hẹp khoảng cách trình độ sản xuất quốc phòng với thế giới. Theo đó, nội dung xây dựng CNQP hiện đại gồm: Nâng cao trình độ đào tạo, kỹ năng vận hành máy móc, dây chuyền công nghệ của đội ngũ kỹ sư, công nhân kỹ thuật, người lao động và nâng cao trình độ ngoại ngữ để tiếp nhận chuyển giao công nghệ. Phát huy năng lực nội sinh trong nghiên cứu thiết kế, chế tạo, hiện đại hóa dây chuyền sản xuất CNQP. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ mới phục vụ sản xuất, sửa chữa, cải tiến, hiện đại hóa cơ sở vật chất kỹ thuật CNQP. Để xây dựng CNQP hiện đại theo các nội dung đã xác định, cần thực hiện tốt các giải pháp sau:

Một là, đầu tư nâng cao chất lượng các cơ sở đào tạo nhân lực CNQP trong Quân đội.

Xây dựng, phát triển nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao, trước hết cần có hệ thống đào tạo nguồn nhân lực cùng cơ sở vật chất kỹ thuật đồng bộ, với đội ngũ giảng viên có trình độ cao. Trên cơ sở đó, các cơ sở đào tạo phải đổi mới nội dung, chương trình thích ứng với Cách mạng công nghiệp 4.0 và chiến tranh công nghệ cao; tập trung đào tạo các ngành VKTBKT mới, đặc thù. Chú trọng đào tạo ngoại ngữ, nhằm đáp ứng yêu cầu tiếp nhận chuyển giao và làm chủ công nghệ sản xuất quốc phòng. Đồng thời, tăng cường liên kết với các cơ sở đào tạo, viện nghiên cứu trong và ngoài nước để cập nhật, hiện đại hóa nội dung, chương trình, phương pháp đào tạo.

Nội dung xây dựng CNQP hiện đại gồm: Hiện đại hóa đội ngũ nhân lực nghiên cứu, sản xuất, cải tiến VKTBKT; phát huy năng lực nội sinh trong nghiên cứu thiết kế, chế tạo, hiện đại hóa dây chuyền sản xuất CNQP; đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ mới.

Hai là, ưu tiên đầu tư phát triển, hình thành các nhóm nghiên cứu mạnh đạt trình độ KHCN quân sự trong khu vực.

Để hiện đại hóa CNQP, nhất thiết phải nâng cao năng lực nghiên cứu KHCN quân sự nội sinh. Trong đó, nội dung mang tính quyết định là xây dựng các nhóm nghiên cứu mạnh, bao gồm các nhà khoa học, chuyên gia đầu ngành, tổng công trình sư về thiết kế, chế tạo VKTBKT. Đây chính là đội ngũ nòng cốt quyết định sự chuyển hóa CNQP về chất. Nhóm nghiên cứu mạnh phải hội tụ đầy đủ các yếu tố về trình độ, thực lực nghiên cứu và phải nắm bắt được nhu cầu phát triển các loại VKTBKT hiện đại. Nghĩa là cần được đầu tư, hình thành, phát triển có trọng tâm, trọng điểm, đảm bảo cả nhu cầu tự nghiên cứu, phát triển VKTBKT trước mắt và lâu dài. Theo đó, cần có chính sách đặc thù để thu hút, tuyển chọn và trọng dụng nhân tài theo nhu cầu sản xuất từng nhóm VKTBKT trên các lĩnh vực công nghệ cao (trí tuệ nhân tạo, công nghệ viễn thông, công nghệ thông tin, công nghệ lõi…) và từng lĩnh vực cần thiết để hiện đại hóa CNQP (nhiên liệu tên lửa, động cơ tên lửa, máy bay chiến đấu, tàu ngầm, máy bay không người lái, radar cảnh giới…).


Dây chuyền sản xuất hiện đại của Nhà máy Z129 (Tổng cục Công nghiệp quốc phòng).   Ảnh: DUY TIẾN

Ba là, thúc đẩy chuyển đổi số trong các doanh nghiệp CNQP.

Doanh nghiệp CNQP muốn phát triển ngày càng vững mạnh phải thúc đẩy mạnh mẽ việc chuyển đổi số, sẵn sàng về cách thức quản trị, hạ tầng công nghệ, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật cần thiết để “đấu nối” với môi trường không gian kinh tế số. Theo đó, các doanh nghiệp CNQP phải từng bước củng cố công nghệ, kỹ thuật sản xuất theo hướng tập trung, chuyên môn hóa, đồng bộ, kết nối, gắn nghiên cứu thiết kế sản phẩm mới với sản xuất, sửa chữa VKTBKT hiện đại. Việc chuyển đổi, ứng dụng số hóa công nghệ kỹ thuật mang lại những lợi ích to lớn trong cải thiện năng suất lao động; đồng thời việc tích hợp, số hóa quá trình sản xuất sẽ tạo ra khả năng tùy chỉnh và tiết kiệm chi phí đầu tư, mở ra không gian mới cho sản xuất VKTBKT và các sản phẩm lưỡng dụng.

Bốn là, xây dựng cơ chế, chính sách đặc thù để thu hút, huy động các thành phần kinh tế có tiềm lực mạnh về tài chính và KHCN tham gia hiện đại hóa CNQP.

Cơ chế, chính sách phải giải quyết tốt mối quan hệ giữa vấn đề bí mật quân sự và huy động, đa dạng hóa nguồn lực về vốn, công nghệ cho hiện đại hóa CNQP. Cơ chế, chính sách phải đi vào trọng tâm là tạo ra sự phối hợp chặt chẽ giữa “phần cứng” của nền tảng CNQP hiện có và “phần mềm” của sự phát triển KHCN từ các doanh nghiệp có thế mạnh về công nghệ. Trên cơ sở đó, hình thành hệ thống kết cấu hạ tầng sản xuất quốc phòng đồng bộ, hiện đại, kết nối không chỉ trong nội bộ một nhà máy mà tổ hợp các nhà máy trong từng quy trình công nghệ, từng sản phẩm hoặc nhóm sản phẩm VKTBKT.

Các doanh nghiệp CNQP phải từng bước củng cố công nghệ, kỹ thuật sản xuất theo hướng tập trung, chuyên môn hóa, đồng bộ, kết nối, gắn nghiên cứu thiết kế sản phẩm mới với sản xuất, sửa chữa VKTBKT hiện đại.

Năm là, tăng cường hợp tác quốc tế trong nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao KHCN quân sự.

 Việc tự nghiên cứu cơ bản, tuần tự về công nghệ sản xuất quốc phòng đòi hỏi rất nhiều thời gian và phải đầu tư lớn về nguồn lực, cơ sở vật chất kỹ thuật. Do vậy, thực hiện “đi tắt, đón đầu” bằng cách đẩy mạnh hợp tác quốc tế, tăng cường đối ngoại quốc phòng là rất cần thiết nhằm mở ra cơ hội tiếp thu kinh nghiệm, tiếp nhận chuyển giao công nghệ, kỹ thuật để hiện đại hóa nền CNQP, qua đó giúp ngành CNQP thực sự là thành tố quan trọng và là mũi nhọn của công nghiệp quốc gia.

Có thể khẳng định, việc xây dựng CNQP Việt Nam hiện đại là tất yếu nhằm thực hiện mục tiêu tự chủ xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam hiện đại; đòi hỏi quyết tâm chính trị rất lớn của Đảng, Nhà nước, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng. Xây dựng CNQP Việt Nam tự chủ, tự cường, hiện đại dựa trên nền tảng trí tuệ, nội lực của chính đất nước, con người Việt Nam kết hợp với đẩy mạnh hợp tác quốc tế, hợp tác quốc phòng để rút ngắn khoảng cách trình độ phát triển CNQP với khu vực và thế giới.

Thượng tá, TS. PHÙNG MẠNH CƯỜNG

Học viện Chính trị, Bộ Quốc phòng

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. Bộ Chính trị (năm 2022), Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 26/1/2022 về đẩy mạnh phát triển công nghiệp quốc phòng đến năm 2030 và những năm tiếp theo, Hà Nội.

2. Bộ Quốc phòng (năm 2021), Báo cáo số 2934/BC-BQP ngày 15/8/2021 về Tổng kết 12 năm thực hiện pháp lệnh Công nghiệp quốc phòng (2008-2020), Hà Nội.

3. Bộ Quốc phòng (năm 2018), Báo cáo số 12012/BC-BQP ngày 20/10/2018 về Tổng kết 15 năm thực hiện pháp lệnh động viên Công nghiệp (2003-2018), Hà Nội.

4. Dương Văn Hùng (năm 2021), Xây dựng, phát triển nền công nghiệp quốc phòng hiện đại, lưỡng dụng, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Tạp chí Quốc phòng toàn dân điện tử, ngày 23/8/2021.

5. Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, Dự thảo Luật Công nghiệp quốc phòng, An ninh và Động viên công nghiệp, Hà Nội.

6. Đảng bộ Quân đội (năm 2020), Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Quân đội lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025, Hà Nội.

 

Bình luận


Họ và tên:                

Email:                       

Nội dung: