Tin tổng hợp

CNQP&KT - Đội ngũ công nhân kỹ thuật có vai trò rất quan trọng trong quá trình xây dựng và phát triển của Tổng cục Công nghiệp quốc phòng. Đây là lực lượng trực tiếp gắn với sản xuất nên luôn được lãnh đạo, chỉ huy các cấp và cơ quan chức năng quan tâm, chú trọng tuyển chọn, đào tạo nhằm góp phần đáp ứng yêu cầu phát triển của Tổng cục nói chung và các nhà máy quốc phòng nói riêng.

Tổng cục Công nghiệp quốc phòng (CNQP) quản lý, điều hành trực tiếp hoạt động sản xuất, kinh doanh đối với nhiều doanh nghiệp quốc phòng, góp phần bảo đảm vũ khí, trang bị cho Quân đội huấn luyện sẵn sàng chiến đấu và tham gia phát triển kinh tế đất nước. Để hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao, việc bảo đảm nguồn nhân lực chất lượng cao, trong đó có đội ngũ công nhân kỹ thuật, luôn được Tổng cục chú trọng, đặc biệt là trong công tác tuyển dụng, đào tạo, sử dụng nhằm góp phần xây dựng và phát triển CNQP đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Ở Tổng cục CNQP, đội ngũ công nhân kỹ thuật có diện bố trí là quân nhân chuyên nghiệp, công nhân và viên chức quốc phòng, lao động hợp đồng; là lực lượng trực tiếp đảm nhiệm hoặc bổ trợ phục vụ sản xuất trên các dây chuyền... Đội ngũ công nhân kỹ thuật hiện chiếm trên 60% tổng quân số toàn Tổng cục, với cơ cấu ngành nghề tương đối đồng bộ, đa dạng; được đào tạo cơ bản ở nhiều trường khác nhau; độ tuổi bình quân là trên 36, trong đó có hàng nghìn thợ bậc cao, nhiều kinh nghiệm trong sản xuất quốc phòng... Đội ngũ công nhân kỹ thuật có phẩm chất chính trị vững vàng, yêu ngành, yêu nghề và gắn bó với đơn vị. Đây là lực lượng quan trọng góp phần nâng cao năng lực, chất lượng sản xuất quốc phòng và kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và lao động theo hướng hiện đại, nâng cao khả năng cạnh tranh, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của các đơn vị. 

 

Đội ngũ công nhân kỹ thuật chiếm khoảng trên 60% tổng quân số toàn Tổng cục, được đào tạo nghề cơ bản, có độ tuổi bình quân là trên 36, trong đó có hàng nghìn thợ bậc cao...

 (Nguồn: Phòng Quân lực, Bộ Tham mưu, Tổng cục CNQP)

Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi cũng còn một số hạn chế bất cập, đó là: đội ngũ công nhân kỹ thuật có cơ cấu ngành nghề chưa cân đối, một số ngành nghề đặc thù còn thiếu, chất lượng không đồng đều, số thợ giỏi và nhiều kinh nghiệm chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ, tay nghề chưa tương xứng với bậc thợ; số người làm việc không đúng chuyên môn được đào tạo vẫn chiếm tỷ lệ khá cao… Những hạn chế nêu trên do nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là do việc rèn luyện tay nghề, thi nâng bậc ở một số đơn vị chưa được quan tâm đúng mức; tuyển dụng và bố trí lao động trái ngành nghề đào tạo...      


Công nhân Nhà máy Z117 điều khiển robot phục vụ sản xuất.     Ảnh: TUẤN MINH

Những năm gần đây, do ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19, nhu cầu tuyển dụng lao động ở các doanh nghiệp trong Tổng cục giảm. Cùng với đó, nhờ tích cực triển khai thực hiện Chỉ thị số 2626/CT- CNQP ngày 22/4/2020 của Tổng cục CNQP về việc tăng cường công tác quản lý, sử dụng lao động ở các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thuộc Tổng cục, nên việc tuyển dụng lao động ở các đơn vị được thực hiện rất chặt chẽ, từng bước khắc phục được những hạn chế, bất cập ở khâu tuyển dụng đầu vào. Đặc biệt, thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng bộ Quân đội và Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng, ngành CNQP đang được tập trung xây dựng theo hướng tự chủ, tự cường, hiện đại và lưỡng dụng, trở thành mũi nhọn của công nghiệp quốc gia; do đó, nhu cầu sử dụng đội ngũ công nhân kỹ thuật ngày càng đòi hỏi cao hơn. Điều đó đặt ra cho công tác tuyển dụng, đào tạo đội ngũ công nhân kỹ thuật những yêu cầu khắt khe hơn, trọng tâm là:

Một là, về cơ cấu, các doanh nghiệp trong Tổng cục cần tiếp tục thực hiện nghiêm Chỉ thị số 2626/CT-CNQP ngày 22/4/2020 của Tổng cục CNQP về việc tăng cường công tác quản lý, sử dụng lao động ở các công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Nắm chắc nhiệm vụ của Tổng cục, của từng đơn vị để xác định đúng nhu cầu tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, bổ sung đội ngũ công nhân kỹ thuật cho phù hợp. Tiêu chí đặt ra là tỷ lệ lao động quản lý (gián tiếp) và lao động bổ trợ, phục vụ duy trì dưới 30% tổng quân số; lao động trực tiếp sản xuất, kinh doanh duy trì ở mức trên 70% tổng quân số. Các doanh nghiệp cần xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, định biên chức danh đúng theo quy định, sát với thực tế để làm cơ sở đánh giá, xác định đối tượng lao động cần bố trí, sắp xếp lại cho phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ. 

Các doanh nghiệp cần đảm bảo tỷ lệ quản lý (gián tiếp) và lao động bổ trợ, phục vụ dưới 30% tổng quân số; lao động trực tiếp sản xuất, kinh doanh ở mức trên 70% tổng quân số.

Hai là, xây dựng đội ngũ công nhân kỹ thuật có phẩm chất chính trị vững vàng, yêu ngành, yêu nghề, có sức khoẻ tốt, có tuổi đời phù hợp. Ưu tiên tuyển dụng công nhân kỹ thuật có tay nghề cao, các ngành nghề được đào tạo chuyên sâu, các ngành, nghề Tổng cục còn thiếu hoặc Quân đội không đào tạo. 

Ba là, với từng đối tượng tuyển chọn phải có trình độ kỹ năng nghề đáp ứng yêu cầu chung là có kiến thức chuyên môn sâu rộng về lĩnh vực, nhiệm vụ được giao. Bên cạnh đó, mỗi đối tượng tuyển dụng có những yêu cầu riêng: Đối tượng có trình độ đào tạo chuyên môn kỹ thuật cao cấp phải hiểu biết về các lĩnh vực khác có liên quan đến nhiệm vụ; biết phân tích, đánh giá thông tin; có thể đưa ra những quan điểm, sáng kiến phù hợp, sát với thực tế hoạt động; có khả năng làm việc độc lập, tự chủ, quản lý tổ, nhóm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Đối tượng có trình độ đào tạo chuyên môn kỹ thuật trung cấp phải có khả năng nhận biết, đánh giá thông tin, làm việc độc lập và hướng dẫn người khác trong tổ, nhóm khi thực hiện nhiệm vụ. Đối tượng có trình độ đào tạo chuyên môn kỹ thuật sơ cấp phải có khả năng áp dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề chuyên môn kỹ thuật thông thường, có khả năng suy xét, phán đoán và tự chủ khi thực hiện nhiệm vụ theo tổ, nhóm. Ngoài những tiêu chí trên, đội ngũ công nhân kỹ thuật cũng cần phải rèn luyện đức tính cần cù, chịu khó, ham học hỏi; được trang bị kiến thức, kỹ năng về ngoại ngữ, công nghệ thông tin nhất định để đáp ứng yêu cầu sản xuất trong tình hình mới.

Bốn là, phát huy năng lực đào tạo đối với 34 ngành nghề đang thực hiện tại Trường Cao đẳng CNQP; tăng cường, kết hợp chặt chẽ giữa nhà trường, viện nghiên cứu và các doanh nghiệp để việc đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, giáo viên và nhân viên chuyên môn kỹ thuật đạt hiệu quả cao, sát với yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và phát triển CNQP, đặc biệt là các ngành nghề đặc thù quốc phòng.

Năm là, coi trọng đào tạo và đào tạo lại để nâng cao tay nghề cũng như chuyển đổi ngành nghề linh hoạt; kết hợp các hình thức đào tạo, trong đó gửi đi đào tạo những ngành nghề còn yếu và thiếu, hoặc những ngành nghề Quân đội không đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu sản xuất quốc phòng - kinh tế trong tình hình mới.

Sáu là, quan tâm chăm lo, bảo đảm thu nhập, không ngừng cải thiện đời sống vật chất, tinh thần cho đội ngũ công nhân kỹ thuật, nhất là đối với thợ bậc cao, công nhân lành nghề; tăng cường giáo dục bồi dưỡng phẩm chất chính trị và kỹ năng chuyên môn gắn với nâng cao trình độ ngoại ngữ, công nghệ thông tin nhằm đáp ứng yêu cầu sản xuất ngày càng hiện đại của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.

Trong thời gian tới, nhiệm vụ chính trị của Tổng cục CNQP ngày càng nặng nề, đòi hỏi phải xây dựng được nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Do vậy, bên cạnh việc giữ gìn và phát huy trình độ, tay nghề của đội ngũ công nhân kỹ thuật hiện có, các đơn vị cần chú trọng hơn trong công tác tuyển chọn, đào tạo lực lượng kế cận đủ năng lực, phẩm chất chính trị để đảm nhiệm tốt nhiệm vụ, trọng trách được giao, góp phần xây dựng Tổng cục CNQP vững mạnh, phát triển.

Thượng tá NGUYỄN MẠNH HÙNG

Trưởng phòng Quân lực - Bộ Tham mưu, Tổng cục Công nghiệp quốc phòng

 

Bình luận


Họ và tên:                

Email:                       

Nội dung: